Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh Tế. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh Tế. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Tư, 18 tháng 1, 2012

Thảm hại Lily

3 nhận xét


Vườn lily ù đỏ này của chị Lan nở sớm
tụt giá xuống hơn 40% nhưng vẫn chưa bán được
“Thị trường hoa năm nay kinh khủng lắm, biến động không lường, sức mua giảm sút nghiêm trọng. Hoa nói chung và hoa Lily nói riêng thảm hại”. Đó là nhận định của Chủ tịch Hiệp Hoa Đà Lạt Trần Huy Đường vào chiều ngày 18/01 (25 tết).


Chín như thổi
Nguyên nhân thị trường hoa Lily rớt giá thê thảm một phần do bà con trồng tràn lan  (toàn Đà Lạt có khoảng 30 triệu cành), trong lúc sức tiêu thụ giảm mạnh. Mặt khác, năm nay thời tiết không thuận lợi, hoa nở sớm, người trông Lily chỉ hòa hoặc lỗ.

Giải thích yếu tố “cầu” quyết định, ông Đường cho biết thêm: hoa lan cũng giảm, năm ngoái một cành lan có giá cao nhất 1,5 triệu đồng, năm nay giá chỉ 1,2 triệu. Trong lúc giá layon năm ngoái 2 ngàn đồng/cành, năm nay 3 ngàn; cát tường 25 ngàn đồng/bó, nay là 35 ngàn đồng. “Do nhu cầu, các loại hoa này lên ngôi, còn ai cũng chăm bẵm vào Lily thì chết”, ông Đường nói.   

Chị Lan là chủ vườn Lily Lan Phúc có số lượng lớn nhất ở Đạ Sa, Lạc Dương, Lâm Đồng. Chị buồn bả, kêu: Tất cả đều đầu tư cao hơn năm ngoái, từ giống (12-14 ngàn đồng/củ) đến phân bón, công chăm sóc và thu hoạch…nhưng tết năm ngoái gần 200 ngàn đồng/bó năm nay chỉ hơn 100 ngàn đồng. Tại Vườn của chị, giá sỉ cho mối lớn, mỗi bó 5 cành, loại ù đỏ 3 tai 110.000 đ, 4 tai 120.000 đ; malong và ù vàng loại 4 tai 110.000 đ, 3 tai 100.000 đ, 2 tai 80.000 đ. Có loại ù đỏ 4-5 tai, nhưng phải cắt đi 1-2 tai đã nở, giá chỉ 45.000 đ/bó. “Năm ngoái thì hoa chín ép, đến mùng 1 còn chưa nở, hầu hết nở trước tết, chỉ « vô » (tết) được một ít. Năm nay Lily chín như thổi, cắt khùng luôn”, chị Lan cho biết.

Lily là loại cây ưa sáng, nhu cầu ánh sáng khoảng 60 - 85%; thích nghi khí hậu lạnh với nhiệt độ khoảng 17 - 25oC; độ ẩm từ 60-80%. Nhưng khí hậu Đà Lạt và vùng phụ cận những ngày qua thất thường. Là loại hoa “sang” trên thị trường, Lily đòi hỏi người trồng phải đầu tư rất nhiều vốn và công sức. Dịp Noel quá lạnh, vườn của chị Hường phải thắp đèn “thúc” hoa nở. Nhưng mấy ngày cận tết, ông trời lại “nổi nóng”, chị Lan huy động gần 20 người cùng “vắt chân lên cổ” đua với tốc độ nở khủng khiếp của hoa. Chỉ còn 3 ngày nữa là hết năm, Lily thì còn vô vàn trong vườn, ruột gan nhà nông ai cũng rối, cũng nóng.

Ban ngày vừa cắt vừa phân loại ngay trên băng
Anh Hà ở Trần Quang Khải, Đà Lạt- là chủ cơ sở cung cấp hoa Ngọc Hà, có nguồn hàng Lily lớn nhất ở Lâm Đồng. Mặc dù anh khẳng định “là người quyết định giá thị trường hoa Lily của bà con” nhưng phải thú nhận: Tình hình này nhiều nhà vườn lỗ nặng. Cách đây mấy ngày, tại TP. Hồ Chí Minh Lily không có giá, muốn mua giá bao nhiêu cũng được. Lily là hàng trôi nổi, nhà vườn chỉ có đứng nhìn vườn hoa nở đầy ra đó mà khóc. Đang ngồi trên xe ô tô vào nhà vườn, điện thoại réo anh Hà. “Dạ a lô, dạ a lô. Dạ, dạ. Dạ rồi, dạ rồi. Tý nữa em xuống bây giờ…”. Cúp máy, anh nói với tôi: “Bà này đang sống dở chết dở cái vườn bông. Đang kêu chú Hà xuống lấy đây”.  

84 triệu đồng và Lily…
Đến các vườn Lily mấy ngày này, nhất là từ 23-25 tết, ở các vườn lớn, hàng chục người làm công “sống chết” 24/24 giờ với Lily. Ai cũng hấp hả, dúi dụi với cắt, gói, vác, đóng hàng và chuyển lên xe. Dù mưa hay nắng, phải làm. Đêm thì treo đèn lần mò từng gốc Lily để cắt. Hàng Lily khi đóng gói vào bao nilon phải phân loại với nhiều tiêu chí: loại, màu sắc, số lượng tai (bông) rồi số lượng cành, chất lượng (hàng thường hay hàng chuẩn)… Một yêu cầu khắt khe là phải đúng loại “hàng 2”, “hàng 3”, “hàng 4”, “hàng 5” (cách gọi của nhà nông về số tai mỗi cành) chính xác mới giữ chân khách hàng được lâu dài. Nhưng phụ thuộc vào nhiều yếu tố, từ giống đến chăm sóc và cả thời tiết nên hoa nở không bao giờ đồng đều theo băng. Nói như chị Lan: “Ai biết nó đẻ con chi ?”. Vì vậy khâu chọn cành theo tai là một trong những công đoạn mỏi mắt nhất. 13 giờ, người làm công dừng tay ăn trưa tại vườn, ai cũng lờ phờ sắc diện thiếu ngủ. Cô Tý, ở phường 3, Đà Lạt, nói: “Không có giờ nghỉ, làm hàng tết phải thức hết đêm luôn, thức suốt mấy ngày”.
Chị Lan (áo xanh) chủ Vườn Lan Phúc đóng hàng 

 “Không cắt sợ nó bung mất hết. Tui có mấy băng ù đỏ nở, thiệt hại 40-50% so với năm ngoái”, chị Lan nói. Khổ nỗi, cắt ra rồi ai sẽ đến mua ? Có mặt tại Vườn Lily Lan Phúc, tôi chứng kiến 2 vị khách đánh đường từ Đà Lạt vào hỏi chị giá cả. Chị Lan bảo: “Dưới sình còn mấy băng ù vàng đẹp lắm, các anh cứ xuống coi đi”. Hai mươi phút sau, 2 vị khách lên, không một lời trả giá, bỏ đi thẳng.

Cũng có khá nhiều người rao hàng trên mạng, marketing bài bản về các loại hoa Lily Đà Lạt. Nào dòng Oriental có Stagazer, Sorbonne, Yelloween, Valdermar, Ribera...; nào dòng LA -Hybride có Twister, Avenilo, Acapuco, Freya... Nhưng khách cũng chỉ “vô” rồi “ra”, chẳng mặn mà giao dịch.
 
Chiều ngày 25 âm lịch, anh Phan Văn Tài ở đường Nguyễn Du, Đà Lạt “chạy hàng” Lily nhỏ lẻ. Anh gọi điện nhờ tôi đặt 200 cành gửi cho người nhà bán tại Đăk Lắc. Tôi “phôn” ngay cho “chủ sị” Hà. Có hàng ngay: giá 120 ngàn/bó Lily ù đỏ, ù vàng; loại “hàng chuẩn”; “hàng 4”, “hàng 5”. Tài cảm ơn rối rít và hẹn gọi lại. Suốt buổi chiều, anh Hà chờ…, còn Tài thì “bặt vô âm tín” !? 
Khẩn trương bỏ hoa vào bao chống héo

Hoa Lily là cây hoa mang lại lợi nhuận lớn ở nhiều nước như Hà Lan, Nhật Bản…Ở Việt Nam, hoa Lily được trồng tại Đà Lạt từ thời Pháp thuộc nhưng rộ nhất bắt đầu từ năm 2003. Cũng có mùa, Lily trúng. Năm 2011, Lily góp phần nâng giá trị sản phẩm hoa trên một đơn vị diện tích bình quân đạt 80 triệu đồng/ha. Kế hoạch năm 2012 đạt 84 triệu đồng/ha. Nhưng, thị trường hoa Đà Lạt nói chung, Lily nói riêng đang “lênh đênh” theo biển giá. Liệu kế hoạch nêu ra có quá tầm khi kỹ thuật chưa nương theo được với thời tiết, định hướng chuyển đổi chưa dự báo được dòng chảy biến động của thị trường ? Rất cần những lời giải thiết thực giúp nông dân trồng hoa từ các nhà chuyên môn, nhà quản lý. Hỏi Chủ tịch Hiệp hội Hoa Đà Lạt, ông Trần Huy Đường trả lời: “Giờ này lo cho hoa còn bụng dạ nào mà đề xuất”! 

                                        Phóng sự: MINH ĐẠO 
Đọc tiếp... →
Thứ Sáu, 13 tháng 1, 2012

Lội đồng chiều ba mươi

0 nhận xét
Chiều ba mươi Tết năm Canh Dần vơi dần. Chẳng có chiều nông nhàn. Nhà nông xã An Nhơn, thị trấn Đạ Tẻh, huyện Đạ Tẻh vẫn cần cù, nhẫn nại trên cánh đồng nắng nỏ đến sạm da. Họ là những người từ nhiều miền quê ở đất Bắc, đất Trung du cư vào lập nghiệp.

Đất bạc màu, giá cả phân tro cao ngất ngưởng… Làm ăn thật khó trăm bề. Chị Âu Thị Nim, dân tộc Nùng, thôn 4a, An Nhơn vừa vãi phân NPK, vừa nói: Lúa bị rầy đã khổ, sợ nhất là bị lùn xoắn lá (ảnh 1). Bởi vậy, phải thường để mắt coi đồng và xịt thuốc trừ rầy (ảnh 2).

Ảnh 1
Ảnh 1
Ảnh 2
Ảnh 2
“Con trâu là đầu cơ nghiệp”, chẳng sai. “Nó vừa đẻ được 3 ngày, đi lúa ngúa ra đường tôi sợ xe lắm nên phải đi cắt cỏ cho mẹ con nó đây”- anh Nguyễn Văn Úy, thôn 6, thị trấn nói (ảnh 3). “Không sợ nghèo thì nuôi vịt”, nhưng hơn 100 con vịt non tuổi không thể bán kịp Tết, anh Nhật, thôn 6 đành phải đi chăn cả ba ngày Tết (ảnh 4).

Ảnh 3
Ảnh 3
Ảnh 4
Ảnh 4
Không có thời gian thì buộc mẹ con nhà trâu vào cột điện gặm cỏ và ngắm khói đồng trôi suốt chiều ba mươi…(ảnh 5).    
Ảnh 5
Ảnh 5

Phóng sự ảnh: Minh Đạo
Đọc tiếp... →
Chủ Nhật, 8 tháng 1, 2012

Bài 1: Chất thải rắn, mối nguy hại lớn

0 nhận xét
Trả lời báo Lamdongonline, TS Lê Văn Lữ - Giảng viên trường Đại học Bách khoa TP HCM thốt lên rằng: “Hiện nay, rác thải công nghiệp nguy hại Việt Nam một năm thải ra khoảng 1 triệu tấn, trong lúc năng lực xử lý của các nhà máy, các công ty mới được 1/10 (100 ngàn tấn). Câu hỏi đặt ra là, liệu 900 ngàn tấn đó đi đâu, hay là chúng ta lại chôn lấp như rác sinh hoạt ? Rác công nghiệp nguy hại mà chôn lấp đương nhiên là gây ô nhiễm môi trường nước và đất”.

Lâm Đồng sử dụng 3 ngàn tấn thuốc bảo vệ thực vật/năm

“Báo cáo môi trường quốc gia năm 2010” cho biết, trung bình mỗi năm, nước ta có khoảng 19,6 ngàn tấn vỏ bao thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) và phân bón thải ra môi trường. Lượng phân bón dùng trong nông nghiệp tăng 517% trong vòng 25 năm qua nhưng có tới 2/3 số lượng phân đã bón không được cây trồng hấp thụ. Riêng năm 2010, khoảng 60-65% lượng phân đạm (tương đương 1,77 triệu tấn), 55 - 60% lượng lân (2,07 triệu tấn) và 55 - 60% kali (344 ngàn tấn) được bón vào đất nhưng cây trồng không hấp thụ. Hệ lụy là tác động tiêu cực đến nông nghiệp và có thể gây đột biến gen đối với một số loại cây trồng.

Tỉnh Lâm Đồng có diện tích hơn 895 ngàn ha đất nông nghiệp, chiếm hơn 91,61% tổng diện tích. Năm 2011, tổng diện tích gieo trồng gần 314 ngàn ha, trong đó cà phê gần 143 ngàn ha, rau 44 ngàn ha, lúa hơn 34 ngàn ha, chè gần 24 ngàn ha, điều 15,5 ngàn ha, cao su gần 5 ngàn ha và dâu tằm 4 ngàn ha…“Báo cáo hiện trạng môi trường năm 2010” của tỉnh Lâm Đồng cho biết, hàng năm lượng thuốc BVTV lưu thông và sử dụng khoảng 2,8 ngàn - 3 ngàn tấn/năm. Toàn tỉnh có hơn 70 công ty, đơn vị cung cấp hơn 1 ngàn loại thuốc BVTV cho gần 800 quầy kinh doanh trên địa bàn. Việc sử dụng phân hóa học và thuốc BVTV tràn lan trong nông nghiệp là nguyên nhân chủ yếu gây ô nhiễm nguồn nước và đất.

Chất thải rắn phát sinh trên địa bàn tỉnh trong năm 2010 khoảng 30 ngàn tấn/ngày đêm. Bao gồm chất thải sinh hoạt, chất thải y tế, chất thải từ các cơ sở kinh doanh dịch vụ và chất thải công nghiệp, trong đó sản xuất công nghiệp chiếm 71%.
Hiện Lâm Đồng có khoảng 60 sông, suối chiều dài trên 10 km. Trong đó suối Cam Ly (diện tích lưu vực 215 km2) bị ô nhiễm nguồn nước mặt nặng nhất do hoạt động nông nghiệp và sinh hoạt đô thị. Kết quả quan trắc năm 2009 vào thời điểm giao mùa khô-mưa: 7/14 mẫu có SS (chất rắn lơ lửng) vượt chuẩn từ 1,25-52 lần; 12/14 mẫu có hàm lượng COD (nhu cầu ôxy hóa học) vượt chuẩn từ 1,1-3,7 lần và 13/14 mẫu có BOD5 (nhu cầu ôxy sinh học) vượt từ 1,06- 6,4 lần. Đối với hồ, “chất lượng nước ở cả 3 hồ cấp nước sinh hoạt cho TP Đà Lạt và vùng lân cận: hồ Đankia, hồ Tuyền Lâm và hồ Chiến Thắng gần như đã bị ô nhiễm bởi hầu hết các thông số cơ bản sử dụng để đánh giá chất lượng nước” (Báo cáo hiện trạng đã dẫn).

Riêng chất thải rắn phát sinh trên địa bàn tỉnh trong năm 2010 khoảng 30 ngàn tấn/ngày đêm. Bao gồm chất thải sinh hoạt, chất thải y tế, chất thải từ các cơ sở kinh doanh dịch vụ và chất thải công nghiệp, trong đó sản xuất công nghiệp chiếm 71%.

Rác thải y tế toàn tỉnh có tới 209,3 tấn/năm (số liệu năm 2009). Hiện ở Đà Lạt thu gom từ các bệnh viện và cơ sở y tế về xử lý, mới chỉ đáp ứng quy chuẩn bước đầu. Sự lo ngại càng lớn hơn, cả 10 huyện rác y tế tự hủy thủ công, khó có thể kiểm soát được. Hộ lý Hường của Trung tâm y tế Đạ Tẻh cho biết: Trước đây đốt nhưng khói nhiều, dân kêu quá, bây giờ đành đào hố chôn lấp trong khuôn viên Trung tâm, còn rác sinh hoạt thì đưa ra ngoài vì nhiều quá.

Tại TT Y tế huyện Đạ Tẻh, chất thải nguy hại chôn lấp một cách sơ sài (ảnh chụp chiều ngày 10-8-2011).
Tại TT Y tế huyện Đạ Tẻh, chất thải nguy hại chôn lấp một cách sơ sài (ảnh chụp chiều ngày 10-8-2011).
Việc thu gom và xử lý chất thải rắn theo phương thức chôn lấp hợp vệ sinh chỉ mới thực hiện được ở TP Bảo Lộc và một phần ở huyện Đức Trọng. Xử lý chất thải rắn, nước thải tiềm ẩn nguy cơ lớn về môi trường. Thực trạng đang diễn ra hầu hết các địa phương trong tỉnh khi chưa có bãi chôn lấp rác thải hợp vệ sinh. Tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt ở đô thị toàn tỉnh chỉ mới đạt được 70%. Vấn đề tái chế và tái sử dụng chất thải rắn công nghiệp chưa được chú trọng. Việc phân loại rác tại nguồn gần như không thực hiện đúng quy định.

Chuyên gia người Đức, ông Holger Holst - Giám đốc dự án, tập đoàn Birkhahn+ Nolt cho biết: Ở Việt Nam, người dân không phân loại rác thải trước khi bỏ vào thùng còn ở châu Âu được phân loại từ đầu nguồn, người dân ý thức không đưa rác nguy hại lẫn vào rác nói chung, chỉ khoảng 5% chưa có ý thức này. Nhưng khi thiết kế bãi rác thải, người ta vẫn tính đến phương án để xử lý 5% này.

Theo bà Nguyễn Thị Anh Hoa -Chi cục phó Chi cục Quản lý Môi trường (Sở Tài nguyên môi trường Lâm Đồng), tất cả các huyện, thành đều có chỗ chôn lấp rác, Bảo Lộc khả dĩ hơn một tý, “còn Đà Lạt thì bị phạt nhiều lần rồi vì ô nhiễm, phạt thì vẫn chịu phạt, vì một tỉnh nghèo, biết rồi, nhưng chưa thể khắc phục hơn được”.

Bãi rác Đà Lạt điệp khúc ô nhiễm nặng

TP Đà Lạt chịu áp lực từ chất thải lớn nhất tỉnh và ngày càng gia tăng mức độ nguy hại. Bình quân năm như sau: 2008 có 36,5 ngàn tấn, 2009 gần 43,3 ngàn tấn, 2010 gần 46,4 ngàn tấn và năm 2011 khoảng 48 ngàn tấn. Hiện, bình quân mỗi ngày Đà Lạt phát thải rác thải sinh hoạt 131 tấn, tăng từ 7-8% lượng rác sinh hoạt/năm. Trong đó, chất hữu cơ (rau, quả, lá cây, thức ăn thừa, xác động vật) chiếm tỷ lệ 73,4%; còn lại là các loại giấy, nhựa, nilon, cao su, vải, gỗ, thủy tinh, kim loại, sành sứ…

"Chúng tôi đang gặp khó khăn trong việc xử lý, bãi rác đang gây ô nhiễm rất lớn, đang quá tải, hiện nước từ bãi rác hàng ngày chảy rỉ ra” - Phó Giám đốc Công ty TNHH một thành viên Dịch vụ đô thị thành phố Đà Lạt
Rác ở Đà Lạt được tập kết từ 150 tuyến đường và 4 xã ven thành phố, tỷ lệ thu gom 80%. Với nguồn ngân sách hạn hẹp, địa bàn thu gom rộng, giao thông không thuận lợi, những cố gắng của Công ty TNHH một thành viên Dịch vụ đô thị TP Đà Lạt đáp ứng được cơ bản để có một thành phố du lịch sạch, đẹp.

Tuy nhiên, bãi chôn lấp rác ở Đà Lạt ngày càng tái ô nhiễm nặng. Bãi rác sử dụng từ năm 1976, hết chỗ chứa, rác chồng lên rác. Diện tích gần 120 ngàn m2, chỉ có 2,5 ngàn m2 là địa hình tương đối bằng phẳng, còn lại độ dốc lớn (hơn 45 độ). Địa hình không thuận lợi để đào hố chôn lấp. 100% rác thải đều xử lý đơn giản bằng cách chôn lấp hở (rải vôi, phun chế phẩm khử mùi và san ủi xuống thung lũng) (!).

Phó Giám đốc Công ty TNHH một thành viên Dịch vụ đô thị thành phố Đà Lạt Phạm Văn Tuyên thừa nhận: “Khu vực bãi rác đã sử dụng trong một thời gian dài nên phần diện tích đất có thể chôn lấp hiện nay không còn, vì vậy rác chủ yếu được san ủi xuống vực thấp và phủ đất lên một phần rác. Chúng tôi đang gặp khó khăn trong việc xử lý, bãi rác đang gây ô nhiễm rất lớn, đang quá tải, hiện nước từ bãi rác hàng ngày chảy rỉ ra”.

Bãi rác Đà Lạt, rác được đẩy xuống vực và chôn lấp hở gây ô nhiễm nặng.
Bãi rác Đà Lạt, rác được đẩy xuống vực và chôn lấp hở gây ô nhiễm nặng.
Đoàn chuyên gia Đức và các nhà khoa học, nhà quản lý nhiều tỉnh, thành thực mục sở thị bãi rác Đà Lạt. Tất cả đều rất ái ngại về ô nhiễm môi trường không khí và nguồn nước. Ở đây, không thể nói khác, ruồi nhặng kín dày và mùi thối đặc sánh không gian triền thông.

Ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí…ảnh hưởng nền kinh tế và sức khỏe con người không nhỏ. Chỉ lấy một ví dụ ô nhiễm không khí kéo theo tổn thất về kinh tế do tác động đến sức khỏe con người. Dựa theo điều tra của Cục bảo vệ môi trường năm 2007, có thể suy ra tỉnh Lâm Đồng mỗi năm thiệt hại khoảng 350,85 tỷ đồng (tương ứng 0,96 tỷ đồng/ngày).

Minh Đạo
Đọc tiếp... →

Nền kinh tế từ chất thải (bài 2)

0 nhận xét
- “Mất cân bằng sinh thái trong phát triển nông nghiệp thể hiện rõ nét ở tình trạng dịch bệnh phát sinh trên diện rộng do ô nhiễm môi trường nước ở các mô hình nuôi thâm canh, các dịch bệnh cho nhiều ngành chăn nuôi gia súc, gia cầm, dịch bệnh lúa,… môi trường nước trên các sông thuộc hệ thống sông Đồng Nai, sông La Ngà, sông Krông - nô, và các hồ (Xuân Hương, Chiến Thắng, Tuyền Lâm, Đankia,… trong tỉnh đã có dấu hiệu ô nhiễm chất hữu cơ và vi sinh, và đang có nguy cơ gia tăng gây ra những biến đổi trong cân bằng sinh thái”.

Chất thải là tài nguyên

Đó là một vấn đề rút ra từ đề tài nghiên cứu khoa học của nhóm tác giả Trường Đại học Đà Lạt khảo sát các loại rau gồm khoai tây, cải thảo, bắp cải, súp lơ, hành tây, cà rốt, xà lách carol vừa công bố những kết quả hết sức ý nghĩa. Hệ số phát thải tại đồng ruộng dao động từ 7% tới 67% tùy loại nông sản, trong đó, hệ số phát thải của xà lách carol đạt cao nhất và của hành tây thấp nhất. Độ ẩm của phế thải nông nghiệp đều cao, dao động từ 68,65% (hành tây) đến 91,06% (cải thảo). Nhiệt trị dao động trong khoảng từ 3.180 kcal/kg (cải thảo) đến 3.805 kcal/kg (cà rốt).

Trong các loại phế thải khảo sát, phế thải súp lơ rất giàu nitơ (7,7% chất khô); phế thải cải thảo rất giàu phospho (0,81% chất khô) và phế thải khoai tây rất giàu kali (8,85% chất khô). Những nguyên tố này có thể tận dụng làm phân bón hữu hiệu thế nhưng theo Phó Giám đốc Phạm Văn Tuyên, trong số rác thải ở Đà Lạt có tới 70% là chất hữu cơ từ rau và hoa nhưng đang rất lãng phí vì chôn lấp.

Rác được chế biến thành phân vi sinh rất tốt
Rác được chế biến thành phân vi sinh rất tốt
Phó Giám đốc Công ty TNHH Môi trường đô thị TP Hồ Chí Minh Trần Đại Đồng, người đang xúc tiến dự án xử lý chất thải ở Đà Lạt cho rằng: “Sự phát triển ngành kinh tế chất thải là sự hình thành xã hội tuần hoàn - một xã hội mà trong đó tất cả các sản phẩm tiêu dùng, sản xuất, văn hóa…đều có vòng đời tuần hoàn an toàn, chất lượng, hiệu quả phục vụ cho đời sống xã hội”. Theo đó, nhiệm vụ và mục tiêu của ngành công nghiệp môi trường là góp sức tích cực giải quyết ô nhiễm môi trường, trong đó góp phần cải tạo một phần năng lượng, một phần sản phẩm tiêu dùng từ chất thải của hoạt động xã hội.

Nhưng ở Đà Lạt, phế thải sau thu hoạch nông nghiệp không chỉ lãng phí hầu hết mà còn gây ô nhiễm môi trường nước, không khí, đất và tạo điều kiện mầm bệnh phát triển. Số liệu khảo sát 200 hộ nông dân cho thấy: gần 55% số hộ nông dân đổ phế thải lên bờ ruộng, 24% đổ xuống suối, 15% đốt thủ công và chỉ có 6% số hộ sử dụng làm phân bón. Chị Trần Thị Thủy, người làm công cho Doanh nghiệp tư nhân Nhật Long, đường Nguyên Tử Lực, phường 8 nói: “Thu hoạch xong còn đồ thừa thì bỏ hết, dọn vườn làm lại ngay chứ hơi đâu mà gom lại. Mùa mưa để tự nó khô rồi đốt, mùa mưa thì đổ xuống suối tự nó thối ra”.

“Thực trạng ô nhiễm môi trường do chất thải rắn sau thu hoạch là vấn đề cần quan tâm vì nó không những ảnh hưởng xấu đến môi trường sinh thái và sức khỏe con người mà còn hạn chế sự phát triển nền kinh tế, tăng giá thành sản xuất, giảm sức canh trạnh nông sản chế biến” (Báo cáo hiện trạng đã dẫn). Xử lý chất thải rắn nói chung và chất thải rắn sau thu hoạch nói riêng là nhu cầu bức xúc của nền nông nghiệp bền vững.

Rác làm thắm sắc hoa anh đào

Chất thải sau xử lý được tái chế làm ra năng lượng, hàng hóa đồ dùng dân dụng và phân bón… Riêng rác thải sau thu hoạch ở Đà Lạt đã được Doanh nghiệp tư nhân Môi trường xanh tái chế làm phân vi sinh và giá thể. Đâu là một mô hình cần phát huy. Quy trình sản xuất của đơn vị này khá đơn giản: Từ rác thải là cải sú, cải thảo, củ cà rốt, cọc tre… xay nhỏ và ủ với vôi sau khoảng 1 tháng hoại ra thành phân vi sinh. Các loại nhựa, xốp thì đốt nóng và ép nén thành sản phẩm.

ra
Phân bón từ rác thải rất thích hợp với cây mai anh đào
Giám đốc Nguyễn Hòa nói: “Một trăm khối rau tươi xay ra chỉ còn khoảng 10 khối, nếu cứ đi đổ vừa hôi thối, vừa không có chỗ, phí lắm. Xốp, tôi xay ra bán cho mấy ông làm hoa lan. Nilon, các bao kẹo bánh… xay ra, ép lại thành bánh lót đường đi, làm vách nhà, chôn còn lâu mới phân hủy, còn đốt thì ô nhiễm nặng”.

Đầu vào nguyên liệu của đơn vị ông Hòa là rác thải ở hồ Xuân Hương và chợ rau Đà Lạt. Đầu mùa mưa, tháng cao điểm nhất khoảng hơn 140 m3 rác các loại về hồ Xuân Hương: rau, chai, bao bì đựng thuốc BVTV, tre, gỗ… Nhưng rau phế thải rất ít, chỉ là nước ô nhiễm sau khi rau bị phân hủy chảy về. Ông Phan Mậu Cải Thuận cán bộ Ban Quản lý khai thác các công trình thủy lợi Đà Lạt (đang quản lý 24 hồ lớn nhỏ) khẳng định: “Hiện hồ Xuân Hương vẫn không giảm bồi lắng do đất và các loại rác trôi về. Đơn vị ông Hòa nhận làm sạch hồ Xuân Hương, trong đó chế phẩm phân vi sinh dùng để cải tạo đất hay bón cho cây cà phê, cây cảnh rất tốt”.

Một trong những địa chỉ dùng phân vi sinh của doanh nghiệp ông Hòa là ông Nhường - chủ cơ sở cây cảnh khá nổi tiếng ở đường Khe Sanh, phường 10, Đà Lạt. Ông Nhường nói: “Phân này tôi mua về ngoài việc bổ sung nguồn dinh dưỡng cho cây còn làm giá đỡ trong chậu tốt, vừa giữ ẩm lại vừa ráo nước”.

Giám đốc Nguyễn Hòa cho biết, Công ty phân bón Bình Điền đến lấy mẫu phân vi sinh của ông về phân tích và cho kết quả hàm lượng NPK rất cao. Công ty này đặt vấn đề mua tất cả sản phẩm rác đã xay chưa qua khâu ủ mang về nhà máy để chế biến lại theo đúng quy cách bán ra thị trường. Nhưng ông Hòa chưa thể cung cấp được, chủ yếu sử dụng vừa làm giá thể vừa làm phân ươm giống cây mai anh đào. Cũng có một doanh nhân từ Đà Nẵng vào giúp ông đầu tư để sản xuất phân vi sinh từ rác thải, nhưng mặt bằng tập kết rác đang là trở ngại. Để phát triển quy mô ngoài đầu tư thiết bị máy móc cần có bãi rộng ủ rác trong nhiều ngày.

Với cây mai anh đào, không cần bón thêm một thứ nào, sau hơn 2 tháng cây con có thể trồng được. Khoảng 1 năm, mai anh đào cao hơn 1 mét, giá 70 ngàn đồng/cây. Ông vừa bán cho một doanh nhân mới tậu biệt thự ở Đà Lạt một cây đường kính gốc 25 cm giá hơn 2 triệu đồng. Hiện ông đã ươm được khoảng 4-5 ngàn cây. TP Đà Lạt rực hồng sắc hoa anh đào làm ngẩn ngơ lòng người, có ai ngờ sắc hoa ấy bắt đầu từ rác thải…
Minh Đạo
Đọc tiếp... →

Hành tinh xanh - hành động của cộng đồng (bài 3)

0 nhận xét
- Dù đã có quan điểm chỉ đạo đúng đắn của Đảng và Nhà nước nhưng vai trò của cộng đồng trong bảo vệ môi trường chưa được huy động đầy đủ. Đảm bảo an ninh môi trường để phát triển kinh tế - xã hội bền vững là mục tiêu của mọi người.

Vấn đề bảo vệ môi trường đã được Việt Nam cụ thể hóa bằng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật như luật, các nghị định, thông tư,... Nhiều nội dung bức thiết đã có hành lang pháp lý để thực hiện. Đó là: kiểm soát ô nhiễm; quản lý chất thải; đánh giá môi trường chiến lược (ĐMC); đánh giá tác động môi trường (ĐTM); quản lý môi trường lưu vực sông; quản lý môi trường biển và hải đảo; đa dạng sinh học; quan trắc và thông tin môi trường; ưu đãi, hỗ trợ tài chính; phát triển công nghệ; xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường,…Dĩ nhiên vẫn tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản, song cả cộng đồng cùng triển khai thực hiện kiên quyết và đồng bộ mới là điều cần thiết hơn bao giờ hết.

c
Lâm Đồng cần sớm hoàn chỉnh hệ thống quản lý chất thải rắn.
Đối với lĩnh vực quản lý và xử lý chất thải, mục tiêu là đảm bảo xử lý triệt để, tái chế, tái sử dụng chất thải, hạn chế chôn lấp, nâng cao hiệu quả công tác xử lý chất thải rắn, đặc biệt là chất thải rắn nguy hại (chiếm 20% trong chất thải rắn). Khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư xây dựng nhà máy xử lý rác thải. Mặt khác, cần tăng nguồn thu từ phí xử lý chất thải rắn (hiện mới đảm bảo khoảng 30% chi phí xử lý hàng năm). Doanh thu từ các sản phẩm tái chế (phân hữu cơ, sản xuất nhựa, gạch blok,…) còn khá thấp và không ổn định. Với Lâm Đồng, nguồn lợi kinh tế từ chất thải gần như bằng “không”.

Lâm Đồng cần sớm hoàn chỉnh hệ thống quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn toàn tỉnh. Trong đó, tập trung đầu tư về con người, trang thiết bị thu gom, vận chuyển và xử lý là những điều kiện tiên quyết. Theo đó, cùng việc xây dựng các bãi chôn lấp rác hợp vệ sinh tiến tới đầu tư công nghệ hiện đại xử lý chất thải. Phải quản lý chất thải rắn nguy hại nghiêm ngặt và có biện pháp đóng cửa các bãi rác gây ô nhiễm trên địa bàn. Các hoạt động kinh tế như công nghiệp, khai thác khoáng sản, du lịch, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản,… và xây dựng nông thôn mới đều cùng hướng đến một môi trường sạch.

Đối với chất thải trong hoạt động nông nghiệp, một mặt tuyên truyền người dân sử dụng hóa chất, thuốc BVTV đúng quy định, cần khuyến khích họ tái sử dụng chất thải sau thu hoạch hợp vệ sinh. Mặt khác cần có sự kiểm soát chặt chẽ trong lưu thông và sử dụng. Khảo sát hoạt động nông nghiệp ở Lâm Đồng, TS Lâm Ngọc Tuấn cho rằng: “Giá trị vật chất và năng lượng còn tồn lưu trong các loại phế thải nông nghiệp được nghiên cứu là rất lớn, cần tiến hành nghiên cứu các giải pháp thu gom và xử lý tận dụng các loại phế thải này để không lãng phí một nguồn tài nguyên có giá trị không nhỏ”.

Kết thúc bài viết này chúng tôi dẫn ý kiến của chuyên gia Holger Holst nhấn mạnh với PV LamDongonline rằng: “Điều đầu tiên tôi khuyến cáo chúng ta nên có những quy định, quy chế rõ ràng về ngành chất thải, rác thải từ Bộ và các ban ngành, sau đó mới có những chuyên ngành cụ thể. Ngành chất thải phát triển theo từng giai đoạn một, nó là cả một ngành kinh tế và điều ấy chắc chắn sẽ lặp lại ở các nước phát triển, đang phát triển ở Việt Nam như Philipin, Indonexia, Malaixia…Ở nước Đức hiện nay ngành kinh tế này đã có một bước phát triển 30 năm, Việt Nam cũng cần phải có thời gian. Ngành chất thải và rác thải là ngành kinh tế đặc thù, phải thấy hiệu quả của nó từ ý thức của người dân, nó đem lại hiệu quả kinh tế khi mà chất thải không chỉ coi là rác mà là nguồn nguyên liệu. Nhưng trước hết phải chú ý đến vấn đề môi trường vì các nước càng ngày càng phát triển thì càng sản sinh ra nhiều chất thải, sau đó mới tính đến hiệu quả kinh tế”.

MINH ĐẠO
Đọc tiếp... →